Hoạt động cải cách hành chính

Nâng cao chất lượng phục vụ hành chính công trong mô hình Chính quyền địa phương hai cấp: Thực tiễn tỉnh Bắc Ninh

20/05/2026 14:06

Việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả - không còn cấp huyện - đang đặt ra những yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với hoạt động phục vụ hành chính công. Thay vì ba tầng (tỉnh - huyện - xã), bộ máy hành chính nay chỉ còn hai tầng, khiến cấp xã phải tiếp nhận khối lượng công việc và thẩm quyền lớn hơn, trong khi đây vốn là cấp có năng lực và hạ tầng hạn chế nhất. Đây là bài toán tổ chức - quản trị không dễ giải, nhất là trong giai đoạn chuyển đổi khi mọi thứ đang được định hình lại đồng thời.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định chuyển đổi số là công cụ then chốt để đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Điều này có nghĩa là cải cách hành chính và chuyển đổi số không còn là hai lộ trình song song, mà phải được gắn kết và triển khai như một thể thống nhất - trong đó phục vụ hành chính công là điểm tiếp xúc trực tiếp nhất, phản ánh rõ nhất hiệu quả của toàn bộ quá trình đổi mới.


Cải cách hành chính và chuyển đổi số không còn là hai lộ trình song song, mà phải được gắn kết và triển khai như một thể thống nhất (Ảnh minh họa)

Cùng với các địa phương trong cả nước, tỉnh Bắc Ninh đã vận hành mô hình chính quyền hai cấp từ ngày 01/7/2025 sau khi hợp nhất với tỉnh Bắc Giang. Từ vị trí “dưới trung bình” trong tháng đầu vận hành, sau 5 tháng tỉnh đã dẫn đầu toàn quốc về chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp - một kết quả đáng chú ý trong điều kiện bộ máy còn đang trong quá trình ổn định tổ chức. Đây là trường hợp thực tiễn có giá trị nghiên cứu, không chỉ vì kết quả đạt được mà còn vì những bài học rút ra từ chính quá trình xử lý khó khăn trong giai đoạn chuyển đổi.

THỰC TIỄN PHỤC VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI TỈNH BẮC NINH

* Điểm xuất phát và những thách thức đặc thù

Sau hợp nhất, tỉnh Bắc Ninh có diện tích 4.718,6 km², dân số gần 3,62 triệu người và 99 đơn vị hành chính cấp xã, với 15 sở và cơ quan tương đương cấp tỉnh. Đây là quá trình hợp nhất giữa hai tỉnh có trình độ phát triển kinh tế, hạ tầng số và phương thức quản trị hành chính không đồng nhất - điều này tạo ra những thách thức đặc thù mà một địa phương “thuần túy” không gặp phải.

Khó khăn lớn nhất trong giai đoạn đầu không chỉ nằm ở quy mô địa bàn hay số lượng đơn vị hành chính mới, mà còn ở sự khác biệt về hạ tầng số, quy trình giải quyết thủ tục hành chính và mức độ chuyển đổi số giữa các địa phương trước hợp nhất. Nhiều đơn vị hành chính cấp xã mới được thành lập chưa kịp ổn định tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và quy trình xử lý công việc. Bên cạnh đó, với mô hình hai cấp, cấp xã phải tiếp nhận thêm một khối lượng lớn thẩm quyền - vốn trước đây do cấp huyện đảm nhiệm - trong khi đây là cấp vốn yếu nhất về nguồn lực.

Theo Bộ chỉ số phục vụ người dân và doanh nghiệp (Quyết định số 766/QĐ-TTg), tại thời điểm đầu tháng 8/2025, Bắc Ninh thuộc nhóm dưới trung bình trong số 34 tỉnh, thành phố. Đây là điểm xuất phát tương đối thấp trong khi khối lượng công việc phát sinh rất lớn và yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp được đặt ra ngay từ những ngày đầu vận hành bộ máy mới - không có thời gian chạy thử.

* Các nhóm giải pháp đã triển khai

Trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 12/2025, Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ sáu nhóm giải pháp có tính hệ thống và gắn kết chặt chẽ với nhau:

Thứ nhất, đổi mới phương thức phục vụ trực tiếp tại cơ sở. Toàn bộ 99/99 xã, phường đồng loạt triển khai ba mô hình: “Ngày thứ Sáu nhanh”, “Ngày Chủ nhật vì dân” và “Thủ tục hành chính tại nhà”. Đây không chỉ là sáng kiến tổ chức mà còn là giải pháp thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ công số đối với những nhóm dân cư dễ bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số - người cao tuổi, người khuyết tật, người dân vùng sâu, vùng xa. Trong nửa cuối năm 2025, toàn tỉnh tổ chức hơn 1.800 buổi hỗ trợ trực tiếp với hơn 11.600 lượt cán bộ và tình nguyện viên tham gia; hỗ trợ người dân thực hiện khoảng 117.500 hồ sơ thủ tục hành chính và kích hoạt thêm hơn 17.000 tài khoản VNeID.

Thứ hai, tổ chức linh hoạt mô hình “Một Trung tâm - nhiều điểm phục vụ”. Thay vì áp dụng cứng nhắc một mô hình đồng nhất, tỉnh chủ động điều chỉnh tổ chức cung ứng dịch vụ theo nhu cầu thực tiễn từng địa bàn. Tại khu vực triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình - nơi phát sinh khối lượng hồ sơ đất đai rất lớn - tỉnh mở thêm điểm tiếp nhận tại xã Nhân Thắng để giảm tải cho Bộ phận Một cửa xã Gia Bình. Cách làm này cho thấy tư duy điều hành xuất phát từ nhu cầu thực tế, không bị ràng buộc bởi quy trình hành chính cứng nhắc.

Thứ ba, cơ chế “Luồng xanh” phục vụ doanh nghiệp. Tỉnh triển khai cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” và “Luồng xanh 60%” nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế và đăng ký kinh doanh. Theo đánh giá của tỉnh, các giải pháp này giúp giảm khoảng 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp - yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sức hấp dẫn đầu tư của Bắc Ninh sau hợp nhất.

Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường năng lực thực thi ở cơ sở. Tỉnh đã phân cấp 135 nội dung và ủy quyền 227 nội dung quản lý nhà nước; trong tổng số 1.008 nhiệm vụ phân định thẩm quyền có 307 nhiệm vụ thuộc thẩm quyền cấp xã. Điểm quan trọng là phân cấp được thực hiện song song với việc điều động, biệt phái cán bộ từ cấp tỉnh xuống cấp xã ở các lĩnh vực then chốt và tổ chức nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức. Kinh nghiệm này cho thấy một nguyên tắc quan trọng: Phân cấp, phân quyền chỉ thực sự hiệu quả khi đi kèm với năng lực và điều kiện bảo đảm tương xứng ở cấp nhận thẩm quyền.

Thứ năm, quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực. Tỉnh ban hành bộ tiêu chí đánh giá hoạt động của các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính và Bộ phận Một cửa các cấp. Hệ thống này tự động tổng hợp và công khai kết quả hằng tuần, gắn trực tiếp với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Đây là bước chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả - tạo áp lực cải thiện thường xuyên và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động hành chính.

Thứ sáu, hoàn thiện hạ tầng số dùng chung. Tỉnh hoàn thành kết nối Hệ thống điều hành thông minh (IOC) với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai; cấu hình quy trình điện tử đối với 100% thủ tục hành chính cấp tỉnh và cấp xã; bảo đảm 100% thủ tục liên quan đến doanh nghiệp được cung cấp trực tuyến. Đây là nền tảng kỹ thuật không thể thiếu để các giải pháp phục vụ hành chính công trên môi trường số vận hành thực chất, không chỉ dừng ở mức hình thức.

* Kết quả và nhận xét ban đầu

Sau khoảng 5 tháng triển khai đồng bộ, đến ngày 31/12/2025, Bắc Ninh đạt 96,83 điểm theo Bộ chỉ số 766, dẫn đầu toàn quốc trong 15 tuần liên tiếp. Trong năm 2025, toàn tỉnh tiếp nhận trên 1,33 triệu hồ sơ thủ tục hành chính; tỷ lệ giải quyết trước và đúng hạn đạt 99,91% ở cấp tỉnh và 99,96% ở cấp xã; chỉ số số hóa hồ sơ đạt 97%; mức độ hài lòng của người dân đạt 99,2%.

Điều đáng chú ý hơn kết quả tuyệt đối là tốc độ cải thiện: Từ “dưới trung bình” lên dẫn đầu toàn quốc chỉ trong chưa đầy 5 tháng, trong khi tổ chức bộ máy vẫn đang trong quá trình ổn định. Điều này gợi lên câu hỏi không phải là “liệu mô hình hai cấp có làm giảm chất lượng phục vụ không” mà là “những điều kiện nào quyết định khả năng duy trì và nâng cao chất lượng trong giai đoạn chuyển đổi”.

Nhìn vào cơ cấu sáu nhóm giải pháp, có thể thấy chúng bổ trợ nhau theo ba chiều: chiều tiếp cận - mở rộng kênh phục vụ và hỗ trợ trực tiếp; chiều hiệu quả - phân cấp, cơ chế luồng xanh và quản trị kết quả; chiều nền tảng - hạ tầng số dùng chung. Không có giải pháp nào đơn lẻ tạo ra sự thay đổi; chính sự phối hợp đồng thời của cả ba chiều mới là yếu tố then chốt.

MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Từ thực tiễn triển khai tại Bắc Ninh, có thể rút ra ba bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các địa phương đang thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện mô hình chính quyền hai cấp.

Bài học thứ nhất: Vai trò của người đứng đầu là yếu tố quyết định trong giai đoạn chuyển đổi bộ máy. Thực tiễn tại Bắc Ninh cho thấy, khi tổ chức đang trong quá trình định hình lại, chỉ có sự chỉ đạo trực tiếp, liên tục và quyết liệt của cấp ủy, chính quyền mới tạo được sự thống nhất trong hành động và ngăn chặn tình trạng “chờ đợi, quan sát” của các cơ quan, đơn vị. Áp lực từ hệ thống đánh giá hằng tuần, công khai, gắn trách nhiệm cá nhân - chứ không phải chỉ thị hành chính - là đòn bẩy thay đổi hành vi thực thi.

Bài học thứ hai: Chuyển đổi số không thể thay thế cải cách quy trình và đổi mới tổ chức, nhưng thiếu nó thì cải cách không thể đi xa. Kinh nghiệm của Bắc Ninh cho thấy đây là mối quan hệ bổ trợ hai chiều: Công nghệ tạo ra điều kiện cho cải cách vận hành hiệu quả; nhưng nếu quy trình và văn hóa tổ chức không đổi mới, công nghệ chỉ số hóa sự kém hiệu quả của hành chính cũ.

Bài học thứ ba: Tính bao trùm là điều kiện cần, không phải phần phụ thêm của chuyển đổi số hành chính công. Nếu chuyển đổi số chỉ phục vụ nhóm dân cư có khả năng sử dụng công nghệ, nó sẽ vô hình trung tạo ra bất bình đẳng mới trong tiếp cận dịch vụ công. Việc Bắc Ninh dành nguồn lực đáng kể để hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật và người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ công trực tuyến không chỉ là việc làm nhân văn - đó còn là yêu cầu bắt buộc để kết quả phục vụ hành chính công phản ánh đúng chất lượng thực tế của bộ máy.

MỘT SỐ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH

Từ thực tiễn và bài học kinh nghiệm của Bắc Ninh, bài viết đề xuất năm nhóm gợi ý chính sách nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ hành chính công trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Một là, hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công theo hướng thống nhất, chuyên nghiệp và hiện đại. Cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế tài chính và tiêu chuẩn vận hành - đặc biệt trong bối cảnh phân cấp mạnh cho cấp xã. Mô hình phục vụ linh hoạt "Một Trung tâm - nhiều điểm phục vụ" và hình thức phục vụ lưu động cần được thể chế hóa để có thể nhân rộng một cách hệ thống.

Hai là, xây dựng cơ chế đánh giá chất lượng phục vụ hành chính công dựa trên dữ liệu thời gian thực, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả phục vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Bộ chỉ số 766 cần tiếp tục được hoàn thiện để phản ánh đầy đủ trải nghiệm thực tế, bao gồm cả nhóm người dân yếu thế trong tiếp cận dịch vụ công số.

Ba là, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung, kết nối đồng bộ giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu địa phương. Đây là điều kiện nền tảng để giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số một cách thực chất. Cần ưu tiên hoàn thành kết nối và làm sạch dữ liệu đất đai, dân cư tại các tỉnh mới hợp nhất - vì đây là nhóm dữ liệu phát sinh nhiều hồ sơ nhất và cũng là nhóm có độ phức tạp cao nhất khi tích hợp từ hai hệ thống khác nhau.

Bốn là, nghiên cứu cơ chế đặc thù để thu hút và giữ chân nhân lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số làm việc tại cơ sở - đặc biệt tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã. Đây hiện là “nút thắt” của quá trình chuyển đổi số tuyến đầu, khi khu vực tư nhân cạnh tranh trực tiếp về đãi ngộ với nguồn nhân lực này.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện mô hình phục vụ hành chính công không phụ thuộc địa giới hành chính - cho phép người dân thực hiện thủ tục tại bất kỳ điểm tiếp nhận nào, bất kể địa chỉ cư trú hay đăng ký. Đây là định hướng dài hạn phù hợp với xu hướng xây dựng chính phủ số toàn diện và sẽ trở nên đặc biệt quan trọng khi ngày càng nhiều tỉnh thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.

KẾT LUẬN

Thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cho thấy: Trong điều kiện tổ chức bộ máy đang chuyển đổi với nhiều biến động, chất lượng phục vụ hành chính công không nhất thiết phải suy giảm - thậm chí có thể được cải thiện đáng kể nếu có sự chuẩn bị và điều hành phù hợp.

Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng hơn là “mô hình hai cấp có phù hợp không” - câu hỏi đó là “những điều kiện nào cần được bảo đảm để mô hình hai cấp phát huy được hiệu lực trong phục vụ hành chính công”. Từ thực tiễn Bắc Ninh, ba điều kiện nổi bật là: vai trò quyết liệt của người đứng đầu trong giai đoạn chuyển đổi; sự đồng bộ giữa cải cách quy trình với chuyển đổi số và phân cấp; và bảo đảm tính bao trùm trong tiếp cận dịch vụ công số.

Những kết quả bước đầu cần được nhìn nhận thận trọng - đây mới là giai đoạn đầu của một quá trình dài. Tính bền vững của các kết quả đạt được phụ thuộc vào khả năng thể chế hóa các giải pháp, tiếp tục nâng cao năng lực cấp xã và hoàn thiện hạ tầng số dùng chung. Tuy nhiên, những gợi mở từ thực tiễn Bắc Ninh có giá trị tham khảo thiết thực cho các địa phương đang trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay.

Nguyễn Ngọc Nam
Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh,
Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Ninh